Thơ ma thu của Nguyễn Khuyến

Dọn đường cho thế hệ 1930-45

Võ Thu Tịnh


Ma thu v thi nhn vốn c nhiều duyn nợ. Trước cảnh thu khng ai cảm xc su sắc bằng cc nh thơ, cho nn trong cc bi thơ hay kim cổ, phải kể đến cc bi vịnh về ma thu. Từ xưa, một loạt 8 bi Thu hứng của Đỗ Phủ (712-770) đ được Kim Thnh Thn liệt vo số su tc phẩm ti tử hay nhất đời Đường.

Về sau, ở nước ta, trong cc bi thơ nm vịnh thu, phải kể đến ba bi Thu điếu, Thu ẩm v Thu vịnh của Nguyễn Khuyến (1835), người lng Yn-đổ (H-nam, Bắc phần), l những thi phẩm tuyệt tc hiện cn truyền tụng cho đến ngy nay.

                           Thu điếu

         Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
         Một chiếc thuyền cu b tẻo teo.
         Sng biếc theo ln hơi gợn t,
         L vng trước gi sẽ đưa vo.
         Tầng my lơ lửng trời xanh ngắt,
         Ng trc quanh co khch vắng teo.
         Tựa gối m cần lu chẳng đặng,
         C đu đớp động dưới chn bo.

                            Thu ẩm

         Năm gian nh nhỏ thấp le te,
         Ng tối đm khuya đm lập lo.
         Lưng giậu phất phơ mu khi nhạt,
         Ln ao lng lnh bng trăng loe.
         Da trời ai nhuộm m xanh ngắt,
         Mắt lo khng viền cũng đỏ hoe.
         Rưọu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
          Độ năm ba chn đ say nh.

                           Thu vịnh

         Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
         Cần trc lơ thơ gi hắt hiu.
         Nước biếc trng chừng như khi phủ,
         Song thưa để mặc bng trăng vo.
         Mấy chm trước giậu hoa năm ngoi,
         Một tiếng trn khng ngỗng nước no?
         Nhn hứng cũng vừa toan cất bt,
         Nghĩ ra sợ thẹn với ng Đo!

Ch giải: Thu điếu : ma thu cu c (điếu: cu c). Thu ẩm : ma thu uống rượu (ẩm: uống). Thu vịnh : ma thu lm thơ vịnh (vịnh: ngm ln, tức cảnh).

Bản chất của thơ l tnh cảm, nn thơ trước hết được cảm nhận bằng trực gic. Khi ta nghe (hay đọc) ba bi thơ nầy, qua trực gic, ta cảm thấy như chnh ta cũng c những xc động như tc giả hoặc đ c lần ta cũng muốn thốt ra những lời tương tự. Như thế, ở đy l v giữa thi nhn v ta đ sẵn c một lối truyền đạt ngn ngữ như nhau, một nếp, một vốn suy tư, cảm xc Việt Nam như nhau.

Truyền đạt ngn ngữ

Trong ba bi thơ trn, Nguyễn Khuyến dng ton những lời ni hng ngy của thường dn Việt, khng xen lẫn một danh từ Hn-Việt hay một từ, một điển tch ngoại lai no (trừ điển tch "ng Đo" ở cuối bi Thu vịnh), v dng nhiều từ v nghĩa, như: lạnh lẽo, veo, tẻo teo, gợn t, đưa vo, lơ lửng, vắng teo (Thu điếu); le te, lập lo, phất phơ, lng lnh, ngắt, đỏ hoe, say nh (Thu ẩm); lơ thơ, hắt hiu (Thu vịnh)...

Trong ngn ngữ Việt, mỗi từ phải c một nghĩa, nhưng cũng c nhiều từ v nghĩa, dạng thể đơn như: veo, ngắt, hoe..., hoặc dạng thể kp, như 2 tiếng v nghĩa được ghp với nhau: le te, lơ thơ, hiu hắt; hoặc một tiếng v nghĩa ghp với một tnh từ (adjectif) tạo thnh những tnh từ kp như: lạnh lẽo, lạnh lng, lạnh buốt, hay xanh rờn, xanh l, xanh ngắt, hay trong veo, trong vắt, trong trẻo... lm cho ngữ nghĩa tiếng Việt đưọc phong ph, tinh tế hơn. Đ l một đặc th của ngn ngữ Việt, tưởng t ngn ngữ nước no c.

Ch ý : Những "từ v nghĩa" ở đoạn trn đy viết xing.

Cấu trc theo luật thơ nh Đường

Trong một bi thơ "Đường luật", nh lm thơ thường gọi
-          hai cu đầu 1 v 2 l "mạo" giới thiệu tổng qut đề,
-          hai cu 3 v 4 l "thực" tả r đề,
-          hai cu 5 v 6 l "luận" nhn ci thực m bn luận thm,
-          hai cu cuối 7 v 8 l "kết" hợp cc cả bi m khai triển tnh tự.

Hai cu thực (3 v 4), cũng như hai cu luận (5 v 6) phải đối nhau.

Nguyễn Khuyến đ trnh by tnh trong cấu trc g b Đường luật ấy một cch dễ dng uyển chuyển:

Đề bi Thu điếu l ma thu đi cu, sau cảnh sng gợn, l vng bay theo gi của ma thu, th tm tnh của nh thơ đ lơ lửng gửi vo cc tầng my, đ cảm thấy vắng teo qua ng trc, để quay trở về đề m than rằng "m cần lu chẳng được!"

Đề bi Thu ẩm l ma thu uống rượu, sau cảnh khi nhạt trn giậu, bng trăng loe trn ao của ma thu, th tm tnh nh thơ vấn vương theo cc cu hỏi "trời, ai nhuộm m xanh ngắt?", "mắt, ai viền m đỏ hoe?" để quay trở về đề m than rằng "bnh thường giỏi uống rượu, m sao nay vi chn đ say nh!"

Đề bi Thu vịnh l cảm hứng trước ma thu m lm thơ. Sau cảnh khi phủ trn nưc biếc, trăng xuyn qua song cửa của đm thu, th tm tnh nh thơ dẫn khởi theo "hoa năm ngoi", "ngỗng nước no?" để rồi quay trở về đề m than rằng "toan lm thơ m thẹn với Đo Tiềm, một thi ho xưa chn cảnh ln ci của quan trường, đ từ chức về vườn, lm bi "Qui khứ lai từ" nổi danh tuyệt tc

Nguồn thi hứng Việt Nam

Cc nh thơ xưa thường tm cảm hứng trong cảnh vật Trung-hoa, như sng Xch-bch, hồ Động-đnh, bến Tầm-dương, sng Tiu-tương, bến Phong-kiều,... Nhưng trong cc thi phẩm Nguyễn Khuyến tuyệt nhin khng thấy c cc cảnh Trung-hoa, hay cc cảnh xy dựng theo tưởng tượng, m những cảnh quen thuộc thường ngy của nng thn Việt Nam.

Hnh tượng thuộc về ma thu

Cho nn, nh thơ Yn-đỗ đ trnh by cảnh thu quen thuộc thường ngy ấy, qua tất cả cc đặc tnh hằng hữu của ma thu: Ma thu l ma của gi heo may, của trời xanh, trăng sng, l ma l rụng, l ma cn trng sinh sản, đm tối đốm lập le đầy vườn, ma thu l ma nước ấm hơn đất v kh trời, nn bốc hơi ln như khi tỏa (v nước bao giờ cũng lạnh hay nng lu hơn đất v kh trời), ma thu cn l ma hoa cc nở, l ma chim trời bay tm nơi ấm p, trnh lạnh ma đng... Phải l người đ sống v ha mnh thật sự với cảnh vật đồng qu Việt Nam như Nguyễn Khuyến mới c thể c đọng tất cả cc nt đặc th của ma thu, để dồn vo ba bi thơ "Đường luật" chật hẹp như thế được.

C thể cho rằng ba bi thơ ma thu của Nguyễn Khuyến l ba bức tranh sơn thủy. Xưa, T Đng Pha đ từng khen Vương Duy (701-761) "Trong thơ c họa, trong họa c thơ". V chnh J. F. Marmontel (1723-1799) ở phương Ty, cũng cho "thơ l một bức họa biết ni, l một ngn từ c thể vẽ ra được bằng cc hnh tượng".

Dẫn khởi su rộng hơn

Trong thi ca, hnh tượng, văn ảnh l những phương tiện tạo ra cảm gic mnh liệt tối đa, m đặc tnh l dẫn khởi, tức l từ những hnh ảnh nầy dẫn lần đến những hnh ảnh, hay tnh khc, đưa tm tư ta đến những xc cảm, tnh tự cao xa hơn. Nhưng theo Andr Breton, khc với hnh tượng, văn ảnh" l một sng tạo của tr c thuần ty. Văn ảnh khng thể pht sinh từ một sự so snh giữa hai sự vật tương tự, m từ một sự đưa hai hai thực tại khc nhau đến gần st lại với nhau. Mối lin hệ cng xa cch, cng chnh xc, th văn ảnh cng mnh liệt... cng c nhiều cường lực xc cảm, cng c nhiều thực chất thi vị hơn ( 1 )

Nếu bảo rằng "Thi ngn kỳ ch d" (thơ ni ln ci ch của mnh) như trong sch Lễ K (thin Nhạc K) xưa c cu, th cc hnh tượng, văn nh về ma thu của Nguyễn Khuyến hẳn cũng c thể dẫn khởi đến một tm sự u ẩn g của tc giả.

Phải chăng đ l tm sự của một bại thần, v tuổi gi, sức yếu m đnh khoanh tay trước nạn nước mất nh tan. Nguyễn Khuyến thi Hương đỗ đầu năm 1864, đến năm 1871, đỗ đầu thi Hội v thi Đnh (tam nguyn), lm quan đến chức Bố-chnh, Tổng-đốc... Gặp lc qun Php đnh chiếm Nam kỳ, Bắc-kỳ, rồi H-nội v Huế lần lượt thất thủ, triều đnh k ha ước nhận quyền bảo hộ của Php, Nguyễn Khuyến liền lấy cớ đau mắt nặng m co quan về hưu năm 1885, giả ngu, giả dại để khỏi bị Php p ra lm quan :

             Trong thin hạ c anh giả điếc
          Kho ngơ ngơ, ngc ngc, ngỡ l ngy...

Vận nước đ cng, Nguyễn Khuyến chỉ cn biết tm lẫn qun trong cc thuyết Lo Trang, trong đời sống xm lng, trong cảnh thanh nhn giữa cảnh vật thin nhin, v thường k gửi tm sự mnh vo những vần thơ bằng chữ nm.

Thu điếu : Ở đy, sng ao thu hơi gợn t: phải chăng phong tro Cần Vương ngy một yếu dần. L vng theo gi bay vo: vua Tự Đức, người cương quyết khng chiến đến cng, đ băng h. My lơ lửng: vua Hm Nghi bị lưu đy. Ng trc khch vắng teo: trong nước người hiền ti ngy một hiếm. m cần lu chẳng đặng: như L Vọng đi cu chờ thời m tuổi gi sức yếu e khng cn sức đợi lu được .

Thu ẩm : Đm khuya ma thu, chỉ c bng trăng loe, nh đốm lập le, khi nước nhợt nhạt: tnh trạng nước nh nhiễu nhương đen tối. Ai nhuộm m trời xanh ngắt?: ai kiềm chế cc vua đương thời? Khng ai viền, sao mắt lại đỏ hoe: v đu m khc? C tiếng giỏi rượu m sao mới vi chn đ say nh? Xưa c cu "Ty bất tại tửu, tại hồ thin địa chi gian", say khng phải tại rượu m tại nơi khoảng giữa trời đất giang sơn nầy. Hơn nữa, "thu ẩm hong hoa tửu" l một trong bốn ci th hưởng nhn thanh tao của người xưa, (2) sao lại uống đến say nh, cho mắt đỏ hoe?

Thu vịnh : Trời xanh thẳm, gi heo may, nước biếc, trăng sng: tất cả cảnh vật ma thu đ gợi niềm cảm hứng. Hoa năm ngoi: nhn cc nở, nhớ những ngy qua. Nghe ngỗng trn trời ku: c phải tin tức cc nh cch mạng lưu vong từ nước no bn ngoi nhắn về chăng? Cảm hứng trước ma thu, Nguyễn Khuyến toan lm thơ vịnh cảnh, m thẹn với người xưa, v trước nạn xm lăng, đ khng lm g được để cứu nước, sao cn by tr ngm vịnh lm g cho thm xấu hổ!

V dẫn khởi xa hơn nữa: Bầu trời thu bao la, nước ao thu trong veo, người đi cu b nhỏ thu hnh trn chiếc thuyền t hon: c sự tương phản trước ci v cng của Trời đất với ci mong manh về hnh hi, lm cho ta phải suy gẫm về thn phận con người trước khng gian v thời gian v tận của vũ trụ. Nhn hoa thu năm nay m tưởng như hoa năm ngoi, nghe ngỗng ku ngang trời m băn khoăn tự hỏi ngỗng nước no: tm tư của thi nhn đ vượt ra ngoi thực tại ngy thng v băng tm theo mọi nẽo từ phương trời xa khuất.

Nhưng, c người sẽ hỏi : cc điều suy đon như trn, quả thật c đng với nguyn của Nguyễn Khuyến khng? Hay đ chỉ do chủ quan của chng ti đ tưởng tượng thu dệt ra chăng?

Paul Valry đ từng cảnh co rằng: "Đy l một sai lầm phản lại tnh chất của thơ, đến c thể giết chết thơ đi, khi ta khẳng định rằng mỗi một thi phẩm chỉ tương ứng với một nghĩa đng thật, độc nhất v ph hợp hay đồng nhất với một tưởng của tc giả m thi". (3) Ring về những lời suy đon của chng ti trn đy, tưởng khng phải l khng c căn cứ, v tương truyền, vo những ngy cuối đời, Nguyễn Khuyến đ m thầm sống trong một thứ mặc cảm tội lỗi v tủi nhục.

        Sch vở ch g cho buổi ấy?
        o xim nghĩ lại thẹn thn gi!
        ...Ơn vua chưa cht đền cng
        Ci trng thẹn đất, ngẩng trng thẹn trời!

Ma thu với Đỗ Phủ

Trong những tự tnh qua cc bi về ma thu nầy, Nguyễn Khuyến v Đỗ Phủ đều c những tm sự đau buồn như nhau. Nhưng nếu Nguyễn Khuyến dng cảnh thu tượng trưng cho những nỗi niềm chn nản, tủi nhục của mnh một cch xa xi, th Đỗ Phủ đ dng những hnh tượng trong thin nhin lm bối cảnh, để miu tả r rng những uất hận trong đời ng.

Như ở hai cu thơ bất hủ trong bi Thu hứng số 1:

        Tng cc lưỡng khai tha nhật lệ
        C chu nhất hệ cố vin tm.

(Khm cc tun thm dng lệ cũ/ Con thuyền buộc chặt mối tnh nh. - Nguyễn Cng Trứ dịch)

M Nguyễn Khuyến đ Việt ha, v c đọng lại một cch lơ lửng kn đo hơn:

         Mấy chm trưc giậu hoa năm ngoi.

V nếu Đỗ Phủ lun lun tự tnh lộ liễu, như ở bi Thu hứng số 3 của ng chẳng hạn:

        Đồng học thiếu nin đa bất tiện
        Ngũ-lăng cừu m tự khinh ph.

(Bao nhiu bạn trẻ ngho xưa /o cừu, ngựa bo nhởn nhơ kinh thnh - Trần Trọng San dịch)

Th Nguyễn Khuyến trnh by tm sự mnh kn đo dẫn khởi xa xi hơn:

        Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
         Mới năm ba chn đ say nh

C đọng, xa xi qua những cảnh thu, cả một hệ thống hnh tượng của Nguyễn Khuyến l những văn ảnh giu dẫn khởi, "đưa hai thực tại xa cch nhau đến gần st lại với nhau" để lm tăng cường lực xc cảm, để tăng thm thực chất thi vị.

Ma thu với nh thơ thế hệ 1930-45

Mỗi năm, khi hoa cc nở giữa những chiếc l vng rơi, khi gi heo may hiu hắt dưới vầng trăng trong sng... một số thi sĩ thế hệ 30-45, cũng cảm thấy rạo rực, cần mượn thi ca m bộc lộ những nỗi hoi cảm ring tư. Hoặc than khc cho duyn kiếp dở dang như b Tương Phố trong Giọt lệ thu:

        Trời thu ảm đạm một mu,
        Gi thu hiu hắt thm sầu lng em.
        Trăng thu bng ng bn thềm,
        Tnh thu ai để duyn em bẽ bng?

Hoặc lắng nghe hồn mnh ngơ ngc, đơn c giữa ma thu, như Lưu Trọng Lư trong Tiếng thu:

        Em khng nghe ma thu
        Dưới trăng mờ thổn thức?
        Em khng nghe rạo rực
        Hnh ảnh kẻ chinh phu
        Trong lng người c phụ?
        Em khng nghe rừng thu
        L thu ku xo xạc
        Con nai vng ngơ ngc
        Đạp trn l vng kh?

Hoặc duyn dng mơ mng như Xun Diệu trong Đy ma thu tới:

        Rặng liễu đu hiu đứng chịu tang,
        Tc buồn bung xuống lệ ngn hng;
        Đy ma thu tới - ma thu tới
        Với o mơ phai dệt l vng.
         Hơn một loi hoa đ rụng cnh
        Trong vườn sắc đỏ rữa mu xanh:
        Những luồng run rẩy rung rinh l...
        Đi nhnh kh gầy xương mong manh...

Nhn sot lại, về những bi thơ ma thu, ngy xưa, Thi hứng của Đỗ Phủ l một trong su tc phẩm ti tử hay nhất đời Đường, bt php miu tả kỳ diệu, chuyn dng những hnh tượng trong thin nhin lm bối cảnh trợ lực để tự tnh những nỗi uất hận bnh sinh của tc giả.

Ngy nay, vo thế kỷ XIX ở nước ta, cc bi Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến l những bi thơ chữ nm tuyệt tc trứ danh, được người đời truyền tụng cho đến ngy nay, tuy xy dựng theo những qui luật g b chặt chẽ của thơ "Đường luật", m bao nhiu tnh , cảnh tr thuần chất Việt Nam đ được giao thoa một cch dung dị, uyển chuyển chưa từng thấy.

Nh thơ Yn-đổ đ Việt ha hon ton lời thơ v tnh tự cảm hứng, đ thăng hoa những "từ v nghĩa" đặc th của ngn ngữ ta để dng lm ph từ (adverbe) bồi nghĩa khởi sắc cho những tnh từ (adjectif) v động từ (verbe), khi phục lại những thanh m giu nhạc tnh hằng hữu của tiếng Việt. Đặc biệt hơn cả l dng những văn ảnh giu tnh cch dẫn khởi cao xa, c thể cho rằng phần no đ gần với khuynh hướng của thi phi "tượng trưng" Ty phương, chủ trương thơ dng hnh ảnh để biểu tượng cho tnh , cảm xc, khng cần giải thch r, m chỉ để dẫn khởi, hơn l để miu tả so snh, một khuynh hướng đ thấy manh nha trong cc vần thơ ma thu của thế hệ 30-45 trch dẫn trn đy.

Gi trị nghệ thuật của thơ vốn ty thuộc vo đặc tnh của ngn ngữ, của lối diễn đạt tnh v của quan niệm thẩm mỹ ring biệt của mỗi dn tộc. Nguyễn Khuyến đ dng bnh cũ Trung-hoa để chứa đựng rượu mới cất ln từ những chất men nghn đời ấy của dn tộc Việt Nam.

Với một bt php tn kỳ đặc th pht sinh từ lng đất mẹ, nh thơ Yn-đỗ đ Việt ha hon ton những sở đắc Hn học của mnh, v chỉ với ba bi thơ nm vịnh thu thi, cũng đủ để gy được trong giới thức giả đương thời một niềm tin tưởng vững chắc vo khả năng diễn đạt thẩm mỹ thi ca của tiếng Việt, dọn đường cho cc nh thơ chịu ảnh hưởng văn ha Ty phương sau nầy.

Gio sư Thanh Lng trong Biểu nhất lm văn học cận đại, đ từng xc nhận "Cc nh thơ của thế hệ 30-45 mắc nợ Yn-đổ rất nhiều... nhất l qua những bi thơ về ma thu ."

Trong những dn tộc cng một nền văn ha, hay ngay trong một dn tộc ring rẻ, quan niệm về thơ cn thay đổi theo cc khuynh hướng văn học, theo cc biến ha x hội v lịch sử.

Vin Mai, thi sĩ đời Thanh, khuyến co:

"Nh thơ rất nhiều, khng nn khăng khăng tin vo lời ni của một người no cho đ l chn l, m khinh bạc cc nh thơ trước ta... Nn biết rằng thơ Vương Xương Linh v Mạnh Hạo Nhin l u nhn thanh nh, nhưng hai nh thơ đ c lm được thơ bin ti đu? Đỗ Phủ, Hn Dũ th thơ hng trng, nhưng kh đưa vo m nhạc [...] Thương hoa xt nguyệt, khng phải n Đnh Qun, L Đng Lang th khng thnh. Snh việc dựng lời, khng phải Nguyễn Chẩn, Bạch Cư Dị th khng thạo.

"Người xưa, mỗi người nổi tiếng một mn, truyền mi đến nay. Người sau khng thể khng học thng nhiều lối, theo từng đề ti m sng tc." (4)

CHڠ THCH

(1) Pierre Reverdy : Limage est une cration pure de lesprit. Elle ne peut natre dune comparaison mais du rapprochement de deux ralits loignes. Plus le rapport de deux ralits seront lointaines et justes, plus limage sera forteplus elle aura de puissance motive et de ralit politique."

(2) Xun du phương thảo địa, hạ ngoạn lục h tr, thu ẩm hong hoa tửu, đng ngm bạch tuyết thi (Xun dạo đất cỏ thơm, h xem ao sen biếc, thu uống rượu hoa vng, đng ngm thơ vịnh tuyết).

(3) P. Valry: "C'est une erreur contraire la nature de la posie, et qui lui serait mme mortelle, que de prtendre qu' tout pome correspond un sens vritable, unique, et conforme ou identique quelque pense de l'auteur" (Varit).

(4) Nam Trn, trch dịch Thơ Đường, Lời tựa, H-nội 1987, trang 19.

Read other articles on Vietnamese literature and culture by Vo Thu Tinh via the links below.

  Oral Literature of Vietnam   The Mnemonic Language   Chu Nom Script   New Poetry Movement   The Ancien Regime   Cao Ba Quat, A Revolutionary?

Home | Literature | Firmament | Poetry | Science | Great Places | Other | About Us | Contact and Comments

Copyright © 2005-2016 Vo Thu Tinh. All Rights Reserved

This site is continually updated.